Thụy Khuê,
Chương 5: Ai cứu Nguyễn Ánh khỏi sự lùng bắt của Nguyễn Huệ, tháng
9-10/1777
Điểm chính ghi “công trạng” của Bá Đa Lộc đối với vua Gia Long, không phải là việc ông đưa hoàng tử Cảnh sang Pháp cầu viện, bởi vì những ai thông thạo tình hình đều biết rằng vị giám mục đã thất bại trong nhiệm vụ của mình, nhưng điểm mà ông “thành công” và được các sử gia Pháp ghi nhận, đó là công ông cứu vua Gia Long thoát chết khỏi sự lùng bắt của Nguyễn Huệ, trong tháng 9 và tháng 10 năm 1777, để đi đến kết luận: nếu Giám mục Bá Đa Lộc không cứu sống Nguyễn Ánh, thì không có triều Nguyễn.
“Sự thực lịch sử” này, sẽ biến thành “công ơn của nước Pháp”
đối với triều Nguyễn, được lập đi lập lại ở nhiều nơi, đặc biệt trong các văn
thư chính thức của chính phủ Pháp hoặc của các thủy sư đô đốc gửi triều đình
các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, để đòi trả các giáo sĩ bị bắt, hoặc xin
thông thương.
Đã đến lúc chúng ta cần điều tra lại sự kiện này, xem hư
thực thế nào.
Nguyễn Quốc Trị cũng đã bắt đầu công việc trong tác phẩm
Nguyễn Văn Tường, ở đây, chúng tôi đưa ra một cách khảo sát khác.
Ngoài những thông tin chính thức, chúng tôi để ý đến một
cuốn sử ngoài luồng, đó là cuốn Sử ký Đại NamViệt, có một số thông tin khác lạ,
không thấy trong chính sử, tên đầy đủ của cuốn sách này như sau:
“Annales Annamites [Sử biên niên An Nam]. Sử Ký Đại Nam Việt. Quốc
triều. Nhứt là doãn tích từ Hiếu Vũ Vương cho đến khi vua Gia Long (Nguyễn Ánh)
đặng trị lấy cả và nước An Nam ”.
Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa, in lại sách này ở Sài Gòn năm 1974
và ở Montréal năm 1986, ghi:
“Chúng tôi chỉ có một bản do nhà dòng Tân Định (Imprimerie
de la Mission de Tân Định) in năm 1909 và ghi rõ là in lần thứ năm. Như vậy tất
bản in lần thứ nhất phải ra đời nhiều năm trước năm này.
Bản in này có ghi các dòng chữ Annales annamites và Quốc
triều, có lẽ là do người đương thời ghi chép “ (Nguyễn Khắc Ngữ, Lời nói đầu).
Nguyễn Quốc Trị có đọc sách này, nhưng ông không tin những
điều viết trong sách.
Người viết (hoặc nhiều người viết) cuốn Sử Ký Đại Nam Việt,
chắc chắn thuộc nhà dòng, thân thuộc hoặc là con cháu linh mục Paul Nghị, người
mà chúng ta sẽ biết là ai. Người viết là người Việt, nên đã cung cấp một số
thông tin khác về việc Nguyễn Ánh chạy thoát năm 1777, không giống thông tin
của Pháp, và cho ta biết những chi tiết về Nguyễn Ánh hồi trẻ, hoặc những việc
xẩy ra không được lịch sử chính thống ghi lại. Người viết, với chữ quốc ngữ còn
phôi thai thời ấy, lại không chuyên về nghiên cứu, có lẽ ít học, nên cứ kể
chuyện theo trí nhớ, có những chỗ không ăn khớp lắm với thời gian lịch sử, tuy
nhiên, những dữ kiện trình bày, nhiều điều có thể dùng được để so sánh với các
tài liệu khác.
Trước hết, xin nhắc lại sự kiện lịch sử xẩy ra trong hai
tháng 9-10/1777, khoảng thời gian gia đình và quần thần của chúa Nguyễn bị
Nguyễn Huệ lùng bắt và tận diệt:
Ngày 19/9/1777, Tân Chính Vương (Hoàng Tôn Dương) và 18 quan
theo hầu bị giết.
Ngày 18/10/1777 Định Vương Nguyễn Phước Thuần bị giết cùng
với Tôn Thất Đồng, anh ruột Nguyễn Ánh và các tướng: Trương Phúc Thận, Lưu Thủ
Lương, Nguyễn Danh Khoáng.
Một mình Nguyễn Phước Ánh, 15 tuổi, chạy thoát.
Trốn tránh ở đâu? Ai nuôi ăn? Ai cho ở?
Thực Lục và Liệt Truyện không viết rõ việc này, tại sao?
Đại Nam
Thực Lục
Về việc này, Thực Lục ghi như sau:
“Tháng 8 [ÂL, tháng 9/1777] giặc Nguyễn Văn Huệ thêm quân
đánh Hương Đôi. Chưởng cơ Thiêm Lộc chạy đi Ba Việt, Tân Chính Vương thấy quân
ít lương hết, bàn kế chạy về Bình Thuận cùng Chu Văn Tiếp họp quân, rốt cục
không xong. Các tướng đều tản mát. Chưởng cơ Tống Phước Hoà than rằng: “Chúa lo
thì tôi phải chết, nghiã không thể tránh được”, rồi tự tử.
Ngày Tân Hợi [18/8/Đinh Dậu - 19/9/1777] Tân Chính Vương bị
hại chết (…)18 người quan theo hầu đều bị giặc hại cả.
Chúa [Định Vương] đi Long Xuyên.
Tháng 9 [ÂL, tháng 10/1777], giặc Nguyễn Văn Huệ sai Chưởng
cơ giặc là Thành (không rõ họ) phạm Long Xuyên.
Ngày Canh Thìn [18/9/Đinh Dậu- 18/10/1777] chúa băng. Tôn
Thất Đồng (con thứ hai của Hưng tổ) cũng chết theo… “ (ĐNTL, I, t.190-191).
Vài trang sau, viết về vua Gia Long, Thực Lục ghi thêm:
“Mùa xuân năm Đinh Dậu [1777], giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ
vào đánh cướp Sài Gòn (thuộc tỉnh Gia Định) Duệ Tông đi Đăng Giang (thuộc tỉnh
Định Tường). Vua [Nguyễn Ánh] đem binh Đông Sơn đến ứng viện, đón Duệ Tông đến
Cần Thơ (tức đạo Trấn Giang thuộc tỉnh An Giang), rồi đến Long Xuyên (thuộc
tỉnh Hà Tiên).
“Tháng 9 [ÂL, tức tháng 10/1777] mùa thu, quân giặc theo
ngặt, ngày Canh Thìn, Duệ Tông bị nạn băng. Một mình vua được thoát, lên thuyền
đậu ở sông Khoa (thuộc Long Xuyên), định nhân ban đêm vượt biển để lánh giặc.
Bỗng có con cá sấu cản ngang mũi thuyền ba lần, bèn thôi. Sớm mai dò biết đêm
ấy có thuyền giặc ở phiá trước. Vua bèn dời sang đóng ở đảo Thổ Châu. Giặc Tây
Sơn Nguyễn Văn Huệ lui quân về Quy Nhơn (…).
Tháng 10, mùa đông [tháng 11/1777] vua cử binh ở Long Xuyên,
tiến đến Sa Đéc (thuộc tỉnh An Giang)” (TL, I, t. 205) (Chúng tôi in đậm)
Những ghi chép quá sơ sài cho một giai đoạn lịch sử quan
trọng như thế. Phải chăng vì những người đi theo đều bị giết chết nên không còn
ai biết rõ để thuật lại? Phải chăng vì đã có thoại chính thống “cá sấu cản
thuyền”, nên không ai dám hỏi Nguyễn Ánh, sự việc lúc ấy ra sao, để sử quan ghi
lại?
Các huyền thoại về việc Nguyễn Ánh chạy thoát nhiều lần,
được các sử gia triều Nguyễn viết vào bài Biểu, ghi ở đầu bộ Thực Lục phần về
Gia Long, với những câu: “Sông Khoa có ngạc ngư [cá sấu] cản mũi“. “Trâu thần
hộ giá ở Đăng Giang” (Ánh qua sông Chanh ở Định Tường nhiều cá sấu, có con trâu
đằm mình bên bờ, bèn đứng lên mình, trâu đưa qua sông). “Rắn thiêng nọ cõng
thuyền nơi Phú Quốc” (Ánh đi thuyền ra Hà Tiên đêm tối không thấy gì, bỗng có
đàn rắn cõng thuyền sang Hà Tiên)… Đó là những chuyện viết trong… Biểu, với ý
tung hô. Và những huyền thoại này, sẽ được viết thành tiểu thuyết, vẽ lại trên
các bát sứ cổ các giai thoại về việc Gia Long tẩu quốc, đó là chính sách tuyên
truyền cho một quần chúng mê tín. Thực Lục là bộ sử, không thể viết kỳ cục như
vậy, cho nên các tác giả bỏ bớt những điều huyễn hoặc đi, ví dụ nói “con cá sấu
cản ngang mũi thuyền ba lần”. Nhưng chúng ta không thể bằng lòng với những lập
luận như thế.
Câu hỏi đầu tiên ở đây là: Tại sao phải bịa chuyện ra như
vậy? Có lẽ đây là lý do:
Người Việt hay tin “điềm”, lúc ấy Nguyễn Ánh hãy còn nhỏ,
khó tự mình nhân danh cả dòng họ của chúa Nguyễn, để đứng lên phất cờ dựng lại
cơ đồ; nên phải dựa vào “điềm đế vương”, đại loại như Lê Lợi được “rùa thần
dâng kiếm báu”. Ở đây, điềm “cá sấu cản thuyền” rất xứng với ngôi “thiên tử”,
có lẽ là do các cận thần truyền ra từ đầu.
Khi Nguyễn Huệ tiêu diệt gia đình và quần thần của chúa
Nguyễn năm 1777, chỉ còn một vài cận thần sống sót, trong đó có quan Thái bảo
Tống Phước Khuông (năm sau ông sẽ gả con gái cho Nguyễn Ánh)… có thể chính vị
đại thần uyên bác đã chủ mưu việc này. Đây là một hành động chính trị cao siêu,
Nguyễn Ánh lúc đó mới 15 tuổi, chắc cũng không nghĩ đến “mưu lược” này, chỉ
tuân theo. Việc Nguyễn Ánh ra đảo Thổ Châu, có lẽ cũng ở trong chiến lược này
mà thôi. Thực ra có lẽ Nguyễn Ánh trốn ở chỗ khác.
Một khi đã đưa ra “thoại chính thức” rồi, thì không ai dám
“nghi ngờ” gì nữa. Các sử thần sau này cứ thế mà chép, không phải “điều tra”
xem hư thực ra sao.
Nhưng tác giả Sử Ký Đại Nam Việt có vẻ biết rõ hơn (sẽ nói
đến sau).
Trước hết, chúng ta xem phiá Pháp xem các nhà nghiên cứu
viết gì.
Thoại của Maybon
Sau đây là sự phân tích của sử gia Maybon, sẽ được học giả
Cadière chép lại.
Trước hết ông đặt vấn đề phải xác định lúc nào Nguyễn Ánh đã
gặp Bá Đa Lộc lần đầu:
“Vấn đề đặt ra là làm sao biết được lúc nào thì vị giám mục
và con người thừa kế bất hạnh các chúa Nam Hà gặp nhau lần đầu.
Những sách An Nam đều câm nín về sự gặp gỡ giữa hai nhân vật
này và những tác giả Tây phương không thống nhất với nhau về ngày tháng. Tuy
nhiên ta cũng có thể xác định sự kiện với độ chính xác nào đó. Nên nhớ rằng Huệ
Vương [Định Vương] và các hoàng tử [anh em Nguyễn Ánh] đã được quan trấn thủ Hà
Tiên [Mạc Thiên Tứ] tiếp đón nồng hậu khi họ bị Nguyễn Văn Lữ đuổi đánh; mặt
khác, Pigneau [Bá Đa Lộc] được Mạc Thiên Tứ khẩn khoản gọi từ Cam-bốt về năm
trước, lúc này đang ở cạnh quan trấn thủ và có thể vị giám mục đã gặp các ông
hoàng trong thời điểm này”. (Maybon, Histoire moderne du pays d’Annam,
t.192[1])
Độc giả có thể hỏi: việc Nguyễn Ánh và Bá Đa Lộc gặp nhau
lần đầu thì có ăn nhập gì đến việc Bá Đa Lộc “cứu” Nguyễn Ánh? Có chứ. Bởi vì,
có gặp, có được giới thiệu, thì mới biết là đó là ông hoàng, là con của vị chúa
đáng lẽ được nối ngôi Võ Vương. Nếu không, thì Ánh lúc đó chỉ là cậu nhỏ 15
tuổi, chưa có danh phận gì, làm sao mà Đức Giám Mục Bá Đa Lộc lại biết, mà cứu?
Tuy nhiên lập luận trên đây cũng chỉ là những giả định, Maybon chưa chứng minh
được là có các cuộc “gặp gỡ” đó.
Nhưng phải công nhận sự sắp đặt của ông rất logique. Sau đó
ông viết đến đoạn cốt lõi:
“Nếu giám mục không gặp thiếu niên Nguyễn Ánh lúc ấy, thì có
lẽ là sau khi Sài Gòn bị chiếm lần thứ nhì; bởi vì, dường như dứt khoát theo
những chứng nhân Tây phương thì “vào khoảng tháng 9-10/1777, Nguyễn Ánh trốn
tránh một thời gian trong khu rừng ngay cạnh chủng viện và giám mục Adran đã
sai Paul Nghị đem đồ ăn tiếp tế đều đều và ngài giúp [Ánh] trốn sang đảo Poulo
Panjang [Thổ Châu] ngay khi quân Tây Sơn rút lui”. (Maybon, Histoire moderne du
pays d’Annam, t. 193[2]).
Ở cuối trang có chú thích số 2, in chữ nhỏ, như sau: “Đó là
kết luận trong lời bình của M. Maitre (sđd, t. 344-347), của chứng nhân xuất
phát từ những giáo sĩ; của ông Barrow và của ông La Bissachère, mà chúng tôi
không ngần ngại chấp nhận là của chúng tôi nữa; tuy nhiên, rất ít khả năng những
chứng của Barrow và La Bissachère là từ hai nguồn thông thạo khác nhau, bởi
người viết cuốn ký sự [chỉ Montyon] ký tên Bissachère, ấn hành ở Luân Đôn, rất
có thể đã sao chép tác phẩm của Barrow. Về vấn đề này xin xem cuốn “Ký sự
Bissachère” do chúng tôi [Maybon] in“[3].
Đến đây mới thấy sự khôn khéo và thủ đoạn của sử gia học giả
Maybon.
Nếu chỉ đọc đoạn đầu mà không đọc chú thích, thì câu “vào
khoảng tháng 9-10/1777, Nguyễn Ánh trốn tránh một thời gian trong khu rừng ngay
cạnh chủng viện và giám mục Adran đã sai Paul Nghị đem đồ ăn tiếp tế đều đều và
ngài giúp [Ánh] trốn sang đảo Poulo Panjang ngay khi quân Tây Sơn rút lui”, đối
với chúng ta là một xác định có cơ sở, nhờ câu văn đi trước “bởi vì, dường như
dứt khoát theo những chứng nhân Tây phương“.
Nhưng nếu muốn biết thêm nguồn gốc của những chứng nhân Tây
phương này thì ta sẽ phải đọc phần chú thích và thấy đó là:
1- Lời bình của M. Maitre [không biết ông này là ai, nói gì,
vì ta không có sách của ông Maitre].
2- Chứng nhân xuất phát từ những giáo sĩ [không nói chứng
nhân nào, giáo sĩ nào].
3- Của ông Barrow và của ông Bissachère [chỉ là một, vì
người viết cuốn cách ký tên Bissachère (tức là Montyon) chỉ chép lại thoại của
Barrow].
Tóm lại, câu “vào khoảng tháng 9-10/1777, Nguyễn Ánh trốn
tránh một thời gian trong khu rừng ngay cạnh chủng viện và giám mục Adran đã
sai Paul Nghị đem đồ ăn tiếp tế đều đều và ngài giúp [Ánh] trốn sang đảo Poulo
Panjang ngay khi quân Tây Sơn rút lui”, mà ta vừa đọc, chỉ rút ra từ một ông
Barrow, vì các ông khác chẳng có gì.
Vậy ta coi, xem Barrow viết như thế nào, thì đây là nguyên
văn lời Barrow:
“Nhà vua đã bị địch bắt, nhưng hoàng hậu, hoàng tử [chỉ
Nguyễn Ánh], các con và một người chị hay em, được Adran cứu thoát. Nhờ đêm
tối, họ rời xa kinh thành [Gia Định] và trốn vào rừng. Ở đấy, trong nhiều
tháng, vị vua trẻ của nước Nam (…) trốn cùng với gia đình, không dưới lùm cây
sồi rậm rạp mà dưới lùm đa hay bồ đề vì ở đây không ai dám xâm phạm. Một nhà tu
công giáo tên Paul [Paul Nghị] liều mình đem đồ ăn mỗi ngày, cho đến khi [quân
đội đi lùng] không còn tìm kiếm nữa và sau cùng được lệnh rút về”. (Barrow II,
t. 201)
Chỗ sai lầm của Barrow trong câu này là:
1- Ông tưởng Định Vương là cha của Nguyễn Ánh, nên gọi
Nguyễn Ánh là Hoàng tử, thực ra Định Vương là chú của Nguyễn Ánh.
2- Ông nói Nguyễn Ánh [hoàng tử] trốn với mẹ [hoàng hậu] và
các con… là sai, vì lúc ấy Nguyễn Ánh chưa có vợ con gì cả, và cũng không phải
do Adran cứu thoát (sẽ chứng minh sau). Chỉ có câu “Một nhà tu công giáo tên
Paul [Paul Nghị] liều mình đem đồ ăn mỗi ngày” của Barrow là đúng.
Nhưng câu văn của Barrow, đã được sử gia Maybon “biên tập”
lại:
Trước hết, ông chỉ lấy một ý của Barrow: “được Adran cứu
thoát” và cắt hết các ý khác, rồi thêm vào những “thông tin” khác:
1- Chỗ trốn của Nguyễn Ánh ngay cạnh chủng viện (không có
trong lời Barrow) để thiết lập một thứ logique cho việc Bá Đa Lộc cứu sống
Nguyễn Ánh.
2- Sau đó ông viết: giám mục Adran đã sai Paul Nghị đem đồ
ăn tiếp tế đều đều. (Chỗ này, Barrow không nhắc đến Adran, chỉ viết: Một nhà tu
công giáo tên Paul liều mình đem đồ ăn mỗi ngày)
3- Và ông thêm vào câu: ngài giúp [Ánh] trốn sang đảo Poulo
Panjang (Cũng không có trong Barrow).
Để hoàn tất, ông đưa ra lời bình luận của M. Maitre, như một
xác định có uy tín, và sau cùng ông nhũn nhặn viết: chúng tôi không ngần ngại
chấp nhận [lập luận này] là của chúng tôi.
Maybon đã biến một câu sai lầm của một tác giả mà ông khinh
miệt là Barrow, vì ông cho rằng Barrow viết bậy bạ (sẽ nói đến sau); thành một
thông tin khả tín bằng cách cắt xén và thêm thắt những điều không có trong văn
bản của tác giả.
Đó là lối viết tinh xảo của một học giả khi muốn chế tạo
những thông tin không có thực.
Người đi sau, khi thấy sử gia học giả Maybon đã viết như
thế, thì không ngần ngại gì mà không chép lại như một “sự thực hiển nhiên”. Rất
may là chúng ta tìm được những chứng nhân khác, viết về việc này.
Giáo sĩ Faulet
Julien Faulet, sinh ngày 21/11/1741 ở Guilliers (thuộc vùng
Morbihan, Bretagne, Pháp) đi truyền giáo từ ngày 29/11/1773, được chuyển đến
Cao Mên tháng 6/1775, làm trợ tá cho giám mục Bá Đa Lộc. Trong suốt thời gian
truyền giáo ở miền này, ông và giáo dân sống trong tình trạng cực kỳ khốn khổ
vì chiến tranh và cướp bóc, cái chết luôn luôn gần kề, cuối cùng ông bị bệnh
tâm thần, phải quay trở về Âu Châu năm 1781, và mất trên đường về, năm 1783.
Giáo sĩ Descouvrières, bề trên của ông, năm 1784, đã tìm
kiếm về cái chết của ông, chỉ biết có thể ông đã chết ở Batavia, cùng nhiều
người Pháp khác, trên chuyến tầu về Île de France (tức Île Maurice bây giờ), vì
một người Pháp cùng đến Batavia một lúc với tầu này, đã ở lại đây một năm nhưng
không gặp ông Faulet bao giờ. (Launay, III, t.13 và t.153).
Faulet viết nhiều thư mô tả tình hình chiến sự, giáo xứ và
giáo dân ở Cao Mên và Hà Tiên. Trong đó có hai tài liệu quan trọng:
1- Bản Ký sự dài, thuật việc giám mục Bá Đa Lộc phải tẩu
thoát khỏi tu viện Cay-Quao [do giám mục xây dựng ở phiá Nam Hà Tiên, dưới sự
bảo trợ của quan trấn thủ Mạc Thiên Tứ]; vị giám mục phải bỏ tất cả con chiên
và giáo sĩ ở lại để thoát thân. Giám mục Bá Đa Lộc chạy ngày thứ ba [29/7/1777]
mà tới thứ sáu ngày 1/8/1777, linh mục Faulet mới dám báo tin cho những trách
nhiệm địa phương biết (Relation abrégée de ce qui est arrivé au collège de
Cay-Quao depuis l’évasion de Mgr Pigneaux, par M. Faulet- Ký sự về những gì xẩy
ra cho tu viện Cay-Quao sau khi Giám Mục Bá Đa Lộc tẩu thoát) (AME, quyển 800,
t. 1559), Launay III, t.131-136).
Sau đó, qua những gì ghi trong Sử Ký Đại Nam Việt, mà ta sẽ
đọc ở dưới, thì lại biết thêm rằng: giám mục chạy sang Cao Mên. Tóm lại: Bá Đa
Lộc chạy khỏi Hà Tiên ngày 29/7/1777 và chạy sang Cao Mên.
Như vậy, giám mục không thể nào “cứu” Nguyễn Ánh trong tháng
9- 10/1777 được.
2- Trong một bức thư khác, Faulet cho biết ai cứu thoát
Nguyễn Ánh tháng 9-10/1777.
Đó là lá thư Faulet viết ở Cao Mên ngày 25/4/1780 gửi M.
Descouvrières, kể về tình trạng cực kỳ khốn khổ của họ đạo ở Hà Tiên, giữa cướp
bóc và giặc giã, đoạn chót có câu:
“Chính cha Paul [Paul Nghị] đã nuôi ăn và giấu ông vua trẻ
trong chiếc thuyền nhỏ của ông và báo cho Đức thánh cha [Bá Đa Lộc] biết”.
“C’est le P. Paul qui a nourri et caché le jeune roi dans
son petit bateau, qui a fait connaitre Monseigneur et la sainteté de notre
religion” (Launay III, t.70).
Lá thư này là một tư liệu quý, bởi vì linh mục Faulet lúc đó
ở Hà Tiên, có lẽ ông đang ở trong nhà Giám Mục Bá Đa Lộc tại đây, nên biết rõ
chuyện: cha Paul Nghị giấu vua trong thuyền của mình.
Tạ Chí Đại Trường, có đọc câu này của Faulet, nhưng ông lại
hiểu và viết lại như sau:
“Lúc bấy giờ Nguyễn Ánh ở đâu mà lại thoát khỏi cái vạ diệt
tộc này? Sử quan nhà Nguyễn không lưu ý nhiều đến việc chạy trốn không lấy gì
làm vẻ vang cho chúa của họ nên không xét đến nơi chốn lưu lạc của ông. Họ thay
thế cái nhục lẩn tránh Tây Sơn bằng câu chuyện cá sấu đưa qua sông, một bằng
chứng mang số đế vương của ông hoàng này… Thế mà chỉ trong một tháng sau ta
thấy ông có mặt ở Long Xuyên với Đỗ Thanh Nhân. Điều đó chứng tỏ ông vẫn theo
Duệ Tông từ lúc rời Ba Giồng. Nhờ đó mà được Pigneau đem dấu trốn và sai Hồ Văn
Nghị đem thức ăn nuôi sống (Chú thích: Thư của ông Faulet cho ông
Descouvrières…” (Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử nội chiến Việt Nam , t. 91).
Việc một cậu bé 15 tuổi, một mình chạy thoát kẻ muốn giết cả
họ mình, thì có gì là xấu hổ, là cái nhục? Thực Lục, Liệt truyện, ghi cả những
chuyện có thể gọi là “nhục” hơn: “Vua đi một ngày đêm chưa ăn, [Nguyễn Đức]
Xuyên chạy vào nhà dân xin cơm” (Liệt truyện, 2, t.157), “Gặp lúc hết lương ăn,
quân đói xanh mặt, có thuyền buôn ở Hạ Châu đi qua, [Nguyễn Văn] Thành đem quân
đi cướp bị lũ lái buôn chống lại rất dữ, Thành bị vài vết thương cố nhẩy lên
cướp được thuyền gạo đem về” (Liệt truyện, 2, t.370).
Nhưng cái lạ là tại sao Tạ Chí Đại Trường lại có thể “móc
nối” các sự kiện như trên. Tại sao “Một tháng sau, Nguyễn Ánh có mặt ở Long
Xuyên” lại chứng tỏ là Ánh “theo Duệ Tông từ lúc rời Ba Giồng”? Và vì “Ánh đi
theo Duệ Tông” nên nhờ đó mà được Pigneau đem giấu trốn? Pigneau gặp Duệ Tông
hồi nào? Hiện giờ chỉ có những giả định mà chưa có xác định.
Nhưng cái lạ nhất vẫn là câu văn trong thư của Faulet:
“C’est le P. Paul qui a nourri et caché le jeune roi dans son petit bateau, qui
a fait connaître Monseigneur et la sainteté de notre religion” (Chính cha Paul
đã nuôi ăn và giấu ông vua trẻ trong chiếc thuyền nhỏ của ông và đã báo cho Đức
thánh cha [Bá Đa Lộc] biết), lại được Tạ Chí Đại Trường hiểu thành: “được
Pigneau [Bá Đa Lộc] đem dấu trốn và sai Hồ Văn Nghị đem thức ăn nuôi sống”.
Faulet viết rõ ràng như vậy, vì lý do gì mà Tạ Chí Đại
Trường lại xoay hẳn nghiã câu này cho đúng với lập luận của Maybon và những
người Pháp thực dân?
Ý kiến của Faulet còn trùng hợp với một ý kiến khác, của tác
giả Sử Ký Đại Nam Việt.
Về việc Nguyễn Ánh chạy trốn, Sử ký Đại Nam Việt đưa ra ba
điều, có liên quan mật thiết với nhau:
1- Về người mẹ của Nguyễn Ánh, Sử Ký Đại Nam Việt viết như
sau:
“Con thứ hai của ông Vũ Vương [Võ Vương Nguyễn Phước Khoát],
tên là Chưởng Vũ [Nguyễn Phước Luân], chẳng khác tính cha là bao nhiêu [tức là
cũng ăn chơi như cha]. Trong các vợ ông ấy có một đứa con hát sinh đặng nhiều
con trai; trong những con trai ấy, thì con thứ hai tên là Đức Hoàng Nguyễn Ánh,
có danh tiếng, vì đến sau được nối dòng cùng tôn lên làm vua, gọi là Gia Long”
(SKĐNV, t.3).
Chi tiết bà mẹ Nguyễn Ánh là “con hát” rất đáng chú ý, bởi
lúc Nguyễn Ánh bị nạn, cũng theo SKĐNV, sẽ được một người “con hát” cứu thoát.
2- Điểm thứ nhì, trái với Thực Lục, nói rằng, Nguyễn Ánh
chạy với Định Vương, Sử Ký Đại Nam Việt, lại nói rằng Nguyễn Ánh chạy với Tân
Chính Vương.
Dưới tiểu đề “Quân Tây Sơn giết ông Hoàng Tôn”, Sử Ký Đại
Nam Việt viết như sau:
“Đến sau, quân lính Hoàng Tôn [tức Hoàng Tôn Dương hay Tân
Chính Vương] đã phải thua một trận cả thể lắm, quân giặc bắt đặng ông Huệ Vương
[tức Định Vương Nguyễn Phước Thuần] mà giết ông ấy đi với các anh em. Ông Hoàng
Tôn với ông Nguyễn Ánh thì trốn được vào đồn kia với một ít quân. Song bởi quân
ấy thấy ông Hoàng Tôn cô thế, thì chẳng có lòng với ông ấy là bao nhiêu, nên
giao với quân Tây Sơn, mà chịu hàng cùng nộp ông Hoàng Tôn với ông Nguyễn Ánh
cho nó. Song ông Nguyễn Ánh trốn khỏi. Vậy quân giặc bắt ông Hoàng Tôn mà giết
đi một cách kín đáo, chẳng dám giết trước mặt người ta, kẻo còn nhiều kẻ phục
ông ấy mà thêm loạn lạc chăng” (SKĐNV, t.12).
Nếu thoại này đúng, thì Nguyễn Ánh đã chạy thoát từ tháng 9,
bởi vì Tân Chính Vương bị giết ngày 19/9/1777.
3- Về việc Nguyễn Ánh chạy trốn, Sử Ký Đại Nam Việt viết
trong đoạn “Nguyễn Ánh trốn giặc” như sau:
“Ấy vậy mà tông tộc nhà Nguyễn đã gần tuyệt, còn lại một ông
Nguyễn Ánh cùng ba anh em mà thôi. Chẳng khỏi bao lâu thì ba ông nầy lại phải
sự khốn khó mà chết hết. Vậy còn một ông Nguyễn Ánh mới lên mười bốn hay mười
lăm tuổi mà thôi.
Ông ấy tuy khỏi chết, song đã phải túng cực lắm vì chẳng còn
của gì, chẳng còn ai giúp cùng chẳng biết tin ai nữa. May còn một đứa nhà trò
có lòng trung tín, ban đêm đã kiếm đặng một chiếc thuyền nhỏ, thì hai thầy tớ
liền đem nhau tìm nơi mà ẩn trong rừng lau lách. Tình cờ lại gặp thuyền ông
Phaolồ [Paul Nghị], là thầy cả bổn quốc, cũng đang chạy giặc. Bấy giờ ông
Nguyễn Ánh, tuy chưa quen biết thầy Phaolồ, song đã biết là thầy cả bổn quốc,
cũng biết là thầy đạo, thì xưng danh mình ra, xin thầy Phaolồ cứu. Thầy Phaolồ
liền chịu và đem qua giấu trong thuyền mình và chèo thẳng qua Hà Tiên, mà giấu
trong nhà Đức Thầy Vêro [Bá Đa Lộc]. Khi ấy đức thầy Vêrô đã sang bên Cao Mên,
cho nên thầy cả Phaolồ vội vàng gởi tin cho người biết sự ấy cho kíp.
Ông Phaolồ có ý giấu ông Nguyễn Ánh trong nhà Đức Thầy Verô
cho kỹ, nên chẳng cho ai biết. Song cũng khó lắm, vì quân Tây Sơn đã biết tỏ
ông ấy đã trốn sang Hà Tiên, nên đã truyền tìm bắt người mà nộp. Vậy qua một
tháng thì chẳng còn lẽ nào mà giấu trong nhà nữa, nên ông Phaolồ phải đưa ông
Nguyễn Ánh lên rừng nơi vắng vẻ. Đoạn hoặc ông Phao Lồ, hoặc thầy giảng kia,
tên là ông Toán, thỉnh thoảng lén chở đồ ăn đến cho mà thôi. Vậy ông Phao lồ
chịu khó mà liệu cách khôn ngoan thể ấy đặng hai ba tháng, thì có công với ông Nguyễn
Ánh cả thể lắm. Vì chưng nếu chẳng có thầy cả ấy, thì ông Nguyễn Ánh phải bắt
chẳng khỏi.
Khi ấy quan phủ kia tên là Nhất Trịnh, nghe tin ông Nguyễn
Ánh hãy còn, thì lấy một ít quân mạnh bạo đi tìm mà giết. Quân Tây Sơn canh giữ
đồn kia áp xứ Đồng Nai và Cao Mên, những ra sức tìm cho đặng ông Nguyễn Ánh.
Dần dần thì nó biết đặng ông ấy còn ẩn mình trong thuyền ông Phaolồ trong Rạch
Giá.
Cũng một khi ấy Đức Thầy Vêrô ở Cao Mên mà về, tìm được ông
Nguyễn Ánh; người lại đem một Langsa, tên là Gioang [Jean] có nghề võ cùng bạo
dạn gan đảm và có tài đánh giặc lắm. (SKĐNV, t.12-13).
Nếu ta tin tác giả Sử Ký Đại Nam Việt, thì có ba người giúp
Nguyễn Ánh thoát nạn:
- Một đứa nhà trò có lòng trung tín, tức là một tiểu đồng
con nhà hát, liên hệ với mẹ Nguyễn Ánh, trung tín theo hầu, chính cậu nhỏ nhà
trò này đã tìm thuyền cứu chủ, giấu vào lau lách.
- Hồ Văn Nghị, hay Paul Nghị, thầy giảng, là người thân tín
của Bá Đa Lộc, đã cứu Nguyễn Ánh đem về nhà Bá Đa Lộc ở Hà Tiên và báo tin cho
Bá Đa Lộc biết, lúc ấy giám mục Bá Đa Lộc đang ở Cao Mên.
- Thầy giảng Toán, cũng liều mình đem đồ ăn đến cho Nguyễn
Ánh.
Sau đó, khi Bá Đa Lộc từ Cao Mên trở về Gia Định, mới gặp
Nguyễn Ánh, vào thời điểm nào, đó là một vấn đề khác, chúng tôi sẽ xác định
sau.
Tất cả câu chuyện này, ăn khớp với nhau: Nguyễn Ánh, sau khi
Tân Chính Vương bị bắt rồi bị hại, lẩn trốn với sự trợ giúp của ba ân nhân trên
đây. Và họ đã giấu ông trong khoảng hai tháng, đến tháng 11/1777, Nguyễn Ánh
xuất hiện ở Long Xuyên, trong trận đánh ở Long Hồ, sẽ nói đến sau.
Một chứng sau cùng, là lá thư của M. Le Labousse gửi cho M.
Létondal, quản thủ (procureur) chủng viện Macao, ngày 15/6/1789:
“Đã đến lúc phải trình ông tin về sự thăng thưởng của cha
Paul [Paul Nghị]. Chẳng cần làm quan, mà ông ấy được hưởng tất cả các đặc
quyền; có lẽ còn hơn các quan nữa; tôi biết chắc rằng ông ấy có một tấm thẻ bài
của vua, hay một dụ, ra lệnh cho các quan phải tuân lệnh và cống hiến tất cả
những gì mà ông ấy cần. Điều này làm cho con người ưu tú này trẻ ra một chút:
các quan đến lạy chào, chúng tôi cũng được thơm lây”. (Launay, III, t. 227).
Điều này chứng tỏ vua Gia Long đã kín đáo thưởng công cho ân
nhân cứu mạng.
Hơn thế nữa, qua thư từ giao dịch giữa các giáo sĩ, ta có
thể biết Nguyễn Vương trao cho Hồ Văn Nghị những trọng trách tế nhị, bôn ba
khắp trong vùng biển đông, đi về giữa Ma Cao, Ấn Độ, Phi Luật Tân… với những sứ
mệnh, có thể là bí mật.
Khi giao Hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc đưa sang Pháp, Vương đã
sai ông đi tháp tùng hoàng tử cùng với Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Liêm; nhưng
khi đến Pondichéry, có lẽ Bá Đa Lộc không muốn có người Việt cùng sang Pháp,
hoặc vì lý do gì khác, nên đã gửi tất cả phái đoàn trở về Vọng Các.
Cái chết của linh mục Hồ Văn Nghị
Tin linh mục Hồ Văn Nghị qua đời được thông báo như sau:
“M. Paul Nghị mất ở Sài Gòn ngày 19/2/1801.
Thư của M. Le Labousse gửi cho các Giám đốc Hội truyền giáo
ngoại quốc
Bình Khang ngày 20/4/1801
Năm nay, chúng tôi thông báo cùng quý vị cái chết của M.
Paul, linh mục người nước Nam.
Ông mất sau nửa buổi bị đau bụng, ngày 19 tháng 2 năm nay.
Xin nói gọn rằng hội truyền giáo Nam Hà mất đi một trong
những tác nhân hàng đầu. Đó là một người có thế lực qua sự nghiệp và lời nói.
Được đào luyện theo đường lối của đức Giám mục Adran, người đã giảng dạy và ban
cho ông danh hiệu tư tế và ông đã chứng tỏ, cho tới tuổi 67, xứng đáng là đệ tử
của người thầy như thế. Ông đã tháp tùng vị chủ giáo trong mọi chuyến đi và chia
sẻ với người những nhọc nhằn và bất hạnh. Họ chỉ tạm xa nhau ở Pondichéry, khi
ông Paul phải ở lại để trông nom những người hầu cận hoàng tử trong khi chờ đợi
hoàng tử trở về. Nhà vua, trong thời điểm tai biến, đã may mắn có ông cung cấp
những nhu cầu tối thiểu, vì vậy rất quý mến ông. Chính ông là người mà Đức ông
nhờ cậy mỗi lần phải gửi đến triều đình việc gì và từ khi Đức ông về trời, ông
là người chính yếu giải quyết vấn đề và trợ giúp hàng đầu của chúng tôi. Sau
khi Thượng đế đã cất đi cánh tay này, chúng tôi chỉ còn một mình ông Liot.”
Linh mục Le Labousse, mất ngày 25/4/1801 ở Nha Trang, bốn
ngày sau khi viết bức thư này. (Launay, III, t. 480-481).
Một điểm cần nhấn mạnh nữa:
Trong bức thư trên đây, linh mục Le Labousse cũng chỉ nói:
Nhà vua, trong thời điểm tai biến, đã may mắn có ông cung cấp những nhu cầu tối
thiểu (Le roi, dans le temps de ses désastres, fut heureux de l’avoir pour lui
procurer les choses de dernière nécessité), tức là linh mục Le Labousse cũng
chỉ nói đến công lao của Paul Nghị nuôi Nguyễn Ánh, chứ không nói gì về sự tham
dự của Bá Đa Lộc.
Tóm lại, hai giáo sĩ gần gụi giám mục Bá Đa Lộc nhất, trong
thời kỳ này là Faulet và Le Labousse, cũng xác nhận việc Hồ Văn Nghị nuôi vua,
mà không nói đến “ơn cứu tử” của Bá Đa Lộc. Nhất là Faulet viết rõ cả chi tiết,
cứu, rồi mới báo cho đức thánh cha biết, đúng như những điều tác giả Sử Ký Đại
Nam Việt thuật lại.
Barrow có thể là người đầu tiên, về phiá Tây phương, viết về
chuyện này, ông cũng xác định việc Paul Nghị nuôi vua, nhưng ông thêm vào đoạn
Bá Đa Lộc đưa gia đình vua chạy trốn là hoàn toàn sai sự thực, vì lúc đó vua
chưa có vợ con.
Montyon, người viết cuốn sách ký tên Bissachère (chúng tôi
sẽ giới thiệu sau) chép lại thoại của Barrow.
Những sai lầm phát xuất từ Barrow, sẽ được hầu như tất cả
những người viết sử về Bá Đa Lộc chép lại, để “ghi ơn cứu tử” vua Gia Long, như
một thành tích đích thực của vị giám mục. Rồi “sự kiện” này lại được học giả sử
gia Maybon xác định một cách chính thức, bằng cách “biên tập” lại lời Barrow,
như chúng tôi đã chứng minh ở trên, để biến nó trở thành “sự thực”.
Qua những chứng từ mà chúng tôi trình bầy trên đây, xin minh
định lại một lần nữa:
- Chú tiểu đồng, con nhà trò, đã tìm thuyền cứu chủ Nguyễn
Ánh.
