Thụy Khuê
Chương 6
Chân dung vua Gia Long
Để có một bức chân dung đáng tin cậy về vị vua vị vua sáng
lập lại nhà Nguyễn, chúng ta cần nhiều ống kính khác nhau, từ những nguồn khác
nhau, những điểm đồng quy của các nguồn tư liệu này, sẽ cho ta bức chân dung
đích thực của vua Gia Long.
Liệt Truyện phác họa một chân dung đậm nét về “ngụy” Quang
Trung, kẻ thù không đội trời chung của Gia Long: “Tiếng nói như tiếng chuông
lớn, mắt sáng nhoang nhoáng như chớp, giảo hoạt khôn ngoan, hay đánh nhau,
người đều sợ cả (…) Ra trận tất thân đi trước tướng sĩ, hiệu lệnh nghiêm ngặt,
rõ ràng, bộ khúc đều có lòng mến phục cả.” (LT, 2, t. 534-535).
Về Gia Long, Thực Lục đưa ra đoạn văn mô tả sự trung thành
tuyệt đối của Nguyễn Ánh đối với Định Vương: luôn luôn kề cận, kiên trì bảo vệ
vị chúa cuối cùng (TL, I, t. 204); nhưng chúng tôi tin rằng, những điều này
cũng vẫn nằm trong chính sách tuyên truyền, có thể do chính vị đại thần trong
tứ trụ triều đình là Thái bảo Tống Phúc Khuông đưa ra, cho thấy Nguyễn Ánh phò
Định Vương tới phút chót, đến Long Xuyên (TL, I, t. 205), để chứng tỏ Nguyễn
Ánh vừa có đạo đức trung quân, vừa có chân mạng đế vương (cá sấu cản thuyền)
xứng đáng trở thành người lãnh đạo chính thức của nhà Nguyễn.
Còn về chân dung đích thực của vua Gia Long, Thực Lục chỉ
viết gọn một câu: “Vua chăm làm mọi việc, suốt ngày không lúc nào rỗi. Sai Thị
thư viện sung chức khởi cư chú (chức quan ghi chép những lời nói việc làm của
vua), phàm vua làm công việc gì đều chép hết” (TL, I, t. 257). Câu này sẽ được
những nhân chứng khác nhau chứng nhận là đúng.
Nguyễn Ánh, Gioang và trận Long Hồ, theo Sử Ký Đại NamViệt
Chứng nhân đầu tiên mà chúng tôi tìm được, nói về tuổi trẻ
của Nguyễn Ánh, là tác giả Sử Ký Đại Nam Việt, cũng là người đã cho ta biết
việc đứa tiểu đồng và linh mục Hồ Văn Nghị cứu Nguyễn Ánh thoát chết khỏi bàn
tay Nguyễn Huệ (xem chương 5).
Ở đây, Sử Ký Đại Nam Việt kể một câu chuyện, nêu rõ tính
tình thiếu niên Nguyễn Ánh, trong chiến thắng đầu tiên đối với Tây Sơn, đó là
trận Long Hồ.
Xin nhắc lại: trong hai tháng 9-10/1777, Nguyễn Huệ truy
lùng Tân Chính Vương và Định Vương, với ý muốn tiêu diệt nhà Nguyễn. Theo Thực
Lục, lúc đó Nguyễn Ánh đang phò Định Vương. Còn Sử Ký Đại Nam Việt cho rằng
Nguyễn Ánh theo Tân Chính Vương.
Thuyết thứ nhất, như trên đã nói, có lẽ được tung ra với mục
đích tuyên truyền. Vì vậy các sử gia triều Nguyễn, khi viết về giai đoạn này
khá lúng túng, sự việc trình bày không rõ ràng (TL, I, t. 204-205).
Thuyết thứ nhì của Sử Ký Đại Nam Việt, có vẻ phù hợp với
thực tế hơn: Lúc đó Tân Chính Vương là người có khả năng chiến đấu, Nguyễn Ánh
còn rất trẻ, nhưng đã có tài đảm lược, đi theo Tân Chính Vương để chống “giặc”,
thì có lý hơn là phò Định Vương, vì ông này chẳng thạo việc quân binh.
Vì đi theo Tân Chính Vương, nên Nguyễn Ánh đã trốn thoát
trước ngày 19/9/1777, khi Tân Chính Vương bị hại. Còn Định Vương thì bị bắt và
bị hại một tháng sau, tức là ngày 18/10/1777.
Vẫn theo chính sử thì chỉ một tháng sau nữa, tức là tháng
11/1777, Nguyễn Ánh đã xuất hiện ở Long Xuyên, và cũng trong tháng này, quân
Nguyễn đánh được Long Hồ.
Về trận Long Hồ, Thực Lục chỉ ghi vắn tắt một dòng: “Tháng
11 [ÂL, tháng 12/1777] đánh úp Điều khiển giặc là Hoà ở dinh Long Hồ, (tức tỉnh
Vĩnh Long ngày nay) cả phá được.” (TL, I, t. 205). Không nói ai đánh úp.
Sử Ký Đại Nam Việt viết rõ và khác. Sau khi kể chuyện Hồ Văn
Nghị giấu và nuôi Nguyễn Ánh trong hai tháng, tác giả viết tiếp:
“Cũng một khi ấy Đức Thầy Vêrô [Bá Đa Lộc] ở Cao Mên mà về,
tìm được ông Nguyễn Ánh; người lại đem theo một ông Langsa, tên là Gioang
[Jean], có nghề võ cũng bạo dạn gan [can] đảm và có tài đánh giặc lắm” (SKĐNV,
t. 13).
Theo Sử Ký Đại Nam Việt, thì Bá Đa Lộc tìm gặp Nguyễn Ánh,
khi ở Cao Mên về, và có đem theo Jean về giúp Nguyễn Ánh, vậy chỉ có thể vào
khoảng tháng 11/1777. Trong khi Liệt Truyện ghi như sau: “Năm Canh tý (1780),
Thế tổ Cao hoàng đế lên ngôi vương ở Gia Định, Đa Lộc đến yết kiến xin cố sức
giúp việc, vua nhận lời “ (LT, 2, t.505).
Sử Ký Đại Nam Việt viết tiếp:
“Khi ông Nguyễn Ánh đã tu binh đặng ít nhiều, thì ông Gioang
đã giúp người nhiều việc.
Vậy trước hết, khi thấy quan Nhất Trịnh [Điều khiển Hoà?] đã
lấy đặng đồn kia, thì ông Gioang cứ phép tây mà làm nhiều trái phá, đoạn xuống
thuyền lớn. Bấy giờ Nhất Trịnh chưa ngờ điều gì, thì vào Long Hồ, là nơi quân
Tây Sơn đóng nhiều tầu lắm. Vậy ông Nguyễn Ánh làm tướng cai quân, và ban đêm,
thình lình, thì xông vào đánh quân Tây Sơn. Khi ấy ông Gioang chỉ đốt và bắn
trái phá, nên quân Tây Sơn bất thình lình nghe tiếng trái phá, và thấy nhiều
người chết, thì sợ hãi lắm, vì chưa từng biết sự làm vậy, cùng chưa thấy trái
phá bao giờ; nên bỏ tầu mà nhẩy xuống sông. Những kẻ phải chết chém hay là bị
trái phá thì chẳng bao nhiêu; song kẻ chết đuối vì sợ mà vội nhẩy xuống sông đè
lộn nhau, thì không biết là ngần nào. Trong trận nầy, ông Nguyễn Ánh đã làm
tướng rất khôn ngoan và gan đảm lắm, vì cũng đánh như lính; dầu xung quanh
người chết gần hết, song ông ấy chẳng phải nao. Khi đã tàn trận, mà thấy ông ấy
những máu dầm dề cả mình, mà chẳng bị vết tích gì, thì ai ai đều kể là phép lạ.
Những tầu quân Tây Sơn ở trong Long Hồ thì ông Nguyễn Ánh lấy được hết. ” (t.
12-14).
Như vậy, theo Sử Ký Đại Nam Việt, thì chiến thắng đầu tiên
của Nguyễn Ánh nhờ vào Jean, ngưòi Pháp, kẻ biết làm trái phá. Trái phá ở đây
có thể chỉ là thứ mà sau này người ta gọi là cocktail Molotov, chứ chưa chắc đã
là lựu đạn. Bởi lựu đạn thì phải mua, không thể làm lấy được.
Công của Jean không được ghi trong chính sử, trái với Manuel
(Mạn Hoè) và cũng không được các nhà nghiên cứu Pháp tìm kiếm hoặc nhắc tới.
Duy có một người, H. Cosserat, đại lý thương mại, trong bài
Notes bioghaphiques sur les français au service de Gia Long, BAVH, 1917, III
(165- 206), đã viết những dòng sau đây:
“Joang (Jean) (?-?) Có lẽ ở Nam Hà vào khoảng 1782. Trong
tất cả những tư liệu mà tôi khảo duyệt, tôi chỉ tìm thấy một chỗ nói đến ông
trong tác phẩm “L’Annam et le Cambodge” của giáo sĩ C.E, Houillevaux.
Trong chú thích số (1), tác giả kể rằng có hai kẻ phiêu lưu
người Pháp có vẻ đã đắc lực giúp Nguyễn Ánh (Gia Long) trong những bước đầu
tiến quân: một người được các nhà biên niên sử hay nhà báo (chroniqueurs) gọi
là Joang (Jean), người kia là Mannoe (Manuel), thủy thủ ở miền Bretagne, đầu
tiên làm việc cho giám mục Adran… Joang dường như đã dùng lựu đạn để đánh Tây
Sơn, và có lẽ nhờ khí giới này mà chúa Nguyễn (Gia Long) lần đầu tiên đã chiếm
lại được miền nam đất Nam Hà. Trước hết, ngụy quân chẳng biết cái thứ quỷ quái
này là gì, vội vã trốn biệt. Việc này có thể đã xẩy ra năm 1782 (?). Cuốn Gia
Định Thông chí của G. Aubaret, im lặng không nói gì đến tên Joang này. Cũng
giống như Manuel, hy vọng rằng văn khố An Nam ngày nào đó sẽ mang lại chút ánh
sáng về vấn đề này” (Cosserat, BAVH, 1917, III, t.169).
Cosserat là nhà nghiên cứu thực lòng, ông đã soạn loạt bài
tiểu sử những người Pháp giúp Gia Long, tuy sơ lược nhưng ngay thẳng, chỉ ghi
lại những điều khả tín. Ông cũng là người duy nhất nhắc đến tên Joang. Cosserat
không đọc được Thực Lục và Liệt truyện, nên không biết là hai sách này có nói
đến Mạn Hoè. Còn cuốn Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức thì khi
Aubaret dịch sang tiếng Pháp đã “quên” không đề tên tác giả, và khi người Pháp
trích dẫn sách này, kể cả Maybon, cũng đề là của Aubaret!
Chúng ta không thể biết tại sao chính sử chỉ nhắc đến Mạn
Hoè mà không nhắc đến Gioang. Có thể Gioang ở vào thời kỳ huyền thoại “cá sấu”
cho nên không ai dám hỏi kỹ Nguyễn Ánh, hay chính Nguyễn Ánh cũng không muốn kể
gì về giai đoạn này. Mặc nhiên Gioang đã có mặt qua hai văn bản khác nhau, một
Pháp, một Việt, cả hai đều nói đến “lựu đạn”, “trái phá”, thì chúng ta phải tin
là thực. Nhất là phải công nhận sự đóng góp của Gioang trong chiến công đầu của
Nguyễn Ánh. Nhờ chiến công này, Nguyễn Ánh mới có nhiều thuyền tầu cướp được
của Tây Sơn mà tiếp tục hành trình với Đỗ Thanh Nhơn và quân Đông Sơn.
Tác giả Sử Ký Đại Nam Việt, ở đây, còn cho ta những nét sơ
khởi về Nguyễn Ánh: “Gioang chỉ đốt và bắn trái phá” còn “Nguyễn Ánh làm tướng
cai quân, và ban đêm, thình lình, thì xông vào đánh quân Tây Sơn”, “cũng đánh
như lính”, “những máu dầm dề cả mình”…
Một thiếu niên 15 tuổi như thế, quả là can đảm và xứng đáng
làm đại nguyên soái ở tuổi 16. Nhưng Sử Ký Đại Nam Việt không dừng lại ở hình
ảnh người thiếu niên 15 tuổi, mà còn mô tả hình ảnh một vị vua trưởng thành,
khá riêng tư, không có trong chính sử.
Chân dung vua Gia Long, theo Sử Ký Đại Nam Việt
Dưới đề tựa “Vua tốt trí khôn và gan đảm” tác giả SKĐNV viết
về Gia Long:
“Các quan thấy vua mau mắn dọn dẹp mọi sự, lại mau hiểu các
việc thể ấy, thì lấy làm lạ lắm. Vì chưng đều [điều] gì vua chưa thấy cùng chưa
biết mặc lòng, song như các quan nói một lần, thì hiểu tức thì cùng bắt chước
đặng. Cho nên ai ai cũng khen vua là người tốt trí và khôn ngoan lắm. Vả lại,
vua chẳng nghỉ yên bao giờ: khi thì đốc suất các thợ, khi thì đi biên các kho,
hoặc coi tập binh hay là đắp lũy. Người cũng khéo bầy đặt nhiều đều khôn ngoan,
lại thượng trí sáng dạ cùng chăm học hành; nên dầu người phải khốn khó từ thủa
bé, những chạy đàng nọ nẻo kia, chẳng mấy khi được ngồi một nơi cho yên, chẳng
kịp học hành là bao nhiêu, song cũng hay chữ nho lắm.
Khi nào thấy sự gì lạ, liền chăm học cho hiểu. Vốn vua chẳng
biết chữ bên Tây, nên phải cậy các quan cắt nghiã mọi đều. Nhứt là các tờ đã vẽ
hình tượng các khí giái [giới] và những cách đắp lũy xây thành, đóng tầu hay là
các đều khác thể ấy, thì vua chỉ xem những sự ấy lắm. Vả lại nhiều sách và địa
đồ đã mua bên Tây, thì người chăm học mà hiểu hầu hết.
Vua cũng là người gan đảm lắm, khéo bầy mưu kế mà bắt quân
giặc. Người chẳng những là sai các quan đi đánh giặc, mà lại người đi cầm quân
mà đánh nữa. Cho nên ai ai cũng nói rằng: “Ví bằng các quan có gan đảm và hay
mưu kế như vua, thì âu là “quân giặc chẳng đặng trận nào”.
Một ít đều trách nhà vua: Song cũng có kẻ chê vua rằng:
chẳng được vững lòng, vì khi nào đặng thạnh sự thì vui mừng quá; bằng khi phải
khốn khó ít nhiều, hay là khi bị trận, thì ra như ngã lòng và sợ hãi quá. Vậy
khi nào đã được trận thì vui mừng quá lẽ, chẳng biết thừa dịp thắng trận mà
theo bắt quân giặc và ép nó chịu phép cho xong. Có kẻ lại trách rằng: chẳng hay
cầm giữ quân mình cho đủ, nên bắt người ta nặng việc quan quá” (SKĐNV, t.
57-58).
Đoạn văn trên toát ra giọng kể chân chất của một người thành
thực không xu nịnh; chỉ cần ít dòng vắn tắt mà cho ta những thông tin đầy đủ và
đáng tin cậy về vua Gia Long:
Như: chẳng kịp học hành là bao nhiêu, song cũng hay chữ nho
lắm. Nhất là đoạn này:
“Vốn vua chẳng biết chữ bên Tây, nên phải cậy các quan cắt
nghiã mọi đều. Nhứt là các tờ đã vẽ hình tượng các khí giái [giới] và những
cách đắp lũy xây thành, đóng tầu hay là các đều khác thể ấy, thì vua chỉ xem
những sự ấy lắm. Vả lại nhiều sách và địa đồ đã mua bên Tây, thì người chăm học
mà hiểu hầu hết” là một chứng từ xác định việc vua tự học để đắp lũy xây thành
và đóng tầu như thế nào. Ở đây, không có dấu vết của việc Bá Đa Lộc dịch sách
tiếng Tây cho vua (vì nếu có, thì con người chân chất này, rất tôn sùng Bá Đa
Lộc, đã kể lại rồi) mà chỉ nói là vua không biết tiếng Pháp nên cậy các quan
cắt nghiã mọi điều. Trong số “các quan” ở đây, chắc chắn là có Trần Văn Học,
chuyên gia xây dựng và linh mục Hồ Văn Nghị, đều là những người biết tiếng
Pháp.
Những điều ghi trong Sử Ký Đại Nam Việt trên đây lại đồng
quy với một nguồn thông tin khác, một chân dung khác, do linh mục Le Labousse
viết về Gia Long dưới đây.
Chân dung vua Gia Long, theo linh mục Le Labousse
Pierre-Marie Le Labousse, sinh ngày 22/1/1759 ở Pluneret
(Morbihan, Pháp), đi truyền giáo ngày 20/9/1787, có thể đã mất ở Chợ Mới, tỉnh
Khánh Hoà, ngày 25/4/1801 (Launay III, t. 214). Ông là một trong những người
phụ tá, thân cận nhất của giám mục Bá Đa Lộc, chính ông đã đưa thi thể vị giám
mục từ Quy Nhơn về Gia Định và chính ông đã ghi lại lá chúc thư của vị giám
mục. Ngoài sự tôn sùng đức giám mục bề trên của ông, như tất cả những người
dưới quyền khi viết về “đức thánh cha”, ông cũng là người gần cận vua Gia Long
và đưa ra nhiều thông tin đáng tin cậy, trong giai đoạn ông phục vụ hội truyền
giáo ở Việt Nam.
Trong những thư từ ông viết được lưu trữ lại, có lá thư ngày
14/4/1800, không thấy đề tên người nhận, nội dung ghi lại chân dung vua Gia
Long, như sau:
…” Ông hoàng này có lẽ là người sắc sảo nhất và sôi động
nhất trong triều, nhưng… lời can gián của Đức Giám Mục Bá Đa Lộc cũng làm giảm
bớt bầu máu nóng này. Ông không còn là ông vua chỉ cai trị bằng roi, kiếm và
nói chuyện chết chóc nữa. Bây giờ là một vị đế vương, biết mình là cha của thần
dân, chứ không phải là nhà độc tài…
Ông cứng rắn nhưng không tàn ác; ông nghiêm trị nhưng theo
đúng nguyên tắc pháp luật.
Ông có đủ tất cả các đức tính của lương tâm lẫn trí tuệ. Ông
có lòng tri ân, hào hiệp, tinh tế về điểm danh dự; anh hùng trong nghịch cảnh,
chịu đựng thất bại với lòng can đảm xứng đáng với vị hiền nhân [chỉ Bá Đa Lộc]
đã rèn luyện ông.
Thời trẻ, ông có say mê rượu chè, nhưng từ khi ông thấy mình
phải cầm đầu sự nghiệp, ông đã hoàn toàn sửa mình không nhấp một hớp rượu… Cũng
như ông đã ra những huấn lệnh rất nghiêm khắc cấm say rượu và ông quyết đoán
như vậy…
… Những đức trí tuệ không làm giảm đức của lòng thương yêu.
Linh lợi, sâu sắc, thẳng thắn, nhìn thoáng qua là nắm bắt được trọng tâm của
những sự thể phức tạp nhất. Có trí nhớ hơn người khiến ông ghi nhớ tất cả, cũng
như dễ dàng thiên bẩm bắt chước được tất cả.
Những công binh xưởng, và những bến tầu chiến của ông làm
cho người ngoại quốc thán phục và con mắt cả châu Âu sẽ khen ngợi nếu châu Âu
đến đây chứng kiến.
Một bên, người ta thấy súng ống, đại bác đủ kiểu, pièces de
campagnie (?), giá súng đại bác (affuts), đạn đại bác, vv… mà phần lớn chỉ thua
kiểu mẫu đẹp nhất.
Một bên là thuyền tầu không đếm xuể, những chiến hạm lớn
lao, đủ loại hình thái, kiên cố đến độ làm cho ta kính nể.
Tất cả đều là sản phẩm của ông hoàng này, vừa hoạt động vừa
khéo léo, luôn có các sĩ quan Pháp giúp, bởi vì kỹ thuật và nghề nghiệp ở đây
còn kém tinh xảo rất xa Âu châu…
… Ông có kiến thức về tất cả và có năng khiếu làm tất cả…
Ông cực kỳ siêng năng. Ban đêm ông ngủ ít, đọc nhiều. Ông có
tính hiếu kỳ và thích học hỏi. Trong cung của ông có nhiều sách về kiến trúc,
thành đài. Ông thường giở từng trang để xem những đồ thị và cố gắng bắt chước,
khỏi cần đọc những giải thích bằng chữ Pháp vì ông không đọc được. Mỗi ngày,
ông có một bước tiến mới. Ông là vị vua lớn nhất tới nay chưa bao giờ có ở nước
Nam .
Đức Giám Mục Bá Đa Lộc và ông hoàng này là hai người xuất chúng, mà sử sách của
triều đình sẽ lưu danh thiên cổ…” (Arch. Miss. Étrang. vol.746, p. 869. Recueil
de l’Evêché de Saigon , t. 131-135, in lại
trong Taboulet I, t. 268)
Bức chân dung Gia long của Le Labousse có những điểm đồng
quy với Sử Ký Đại Nam Việt về tính tình vua Gia Long: sự sáng dạ, dễ bắt chước,
ham học mà chúng tôi đã in đậm ở trên. Ngoài ra, về những tài liệu học hỏi, vị
linh mục này cũng ghi gần giống như SKĐNV: “Trong cung của ông có nhiều sách về
kiến trúc, thành đài. Ông thường giở từng trang để xem những đồ thị và cố gắng
bắt chước, khỏi cần đọc những giải thích bằng chữ Pháp vì ông không đọc được”.
Như vậy, Le Labousse và tác giả SKĐNV, đều không nói gì đến việc Bá Đa Lộc dịch
sách chiến lược và xây dựng thành đài cho Nguyễn Ánh bởi nếu có thì nhà vua đã
không phải giở từng trang để xem những đồ thị và cố gắng bắt chước và chắc chắn
Le Labousse là người đầu tiên phải biết và ông đã viết ra rồi.
Về sự mô tả các công binh xưởng của Nguyễn Vương, Le
Labousse cho một cái nhìn tổng quát và sơ sài, nếu muốn biết rõ hơn, chúng ta
có thể đọc Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức. Nói chung không khí
phồn vinh và hiện đại của thành Gia Định lúc bấy giờ với nhiều thuyền bè ngoại
quốc ra vào đều được những người ngoại quốc ghi lại, sau đây là cái nhìn của
Shihõken Seishi, người Nhật.
Nguyễn Vương và thành Gia Định, dưới mắt Shihõken Seishi
Trong sự tìm kiếm các bài viết về Gia Long thời ấy, chúng
tôi may mắn thấy một tác giả nữa, cũng đáng tin cậy, đó là Shihõken Seishi,
người Nhật. Ông đã đến Gia Định trong khoảng 1794-1795, tức là sau khi Barrow
đến Đà Nẵng vài năm. Tầu của ông bị bão, đắm, thuỷ thủ phiêu bạt đến Gia Định,
được vua Gia Long, lúc đó còn là Nguyễn Vương giúp, cho phương tiện trở về
Nhật. Cuốn tiểu thuyết của ông nói về chuyến đi này nhưng có một đoạn tả phong
cảnh xung quanh Sài Gòn, tả thành Gia Định, và buổi ra mắt Nguyễn Vương ở kinh
thành.
Tác phẩm Nampyõki [Đắm tầu ở Nam Hải] của Shihõken Seishi,
do bà Muramatsu Gaspardone dịch sang tiếng Pháp, giới thiệu và chú giải, in
trong Bulletin de l’Ecole Française d’Extrême-Orient (BEFEO), 1933, t. 35-120.
Shihõken Seishi đi tầu Hinoshita, bị đắm trong tháng 9/1794,
phiêu bạt đến tháng giêng năm 1796 mới trở về Nhật. Cuốn sách xuất hiện lần đầu
ngày 16/2-16/3/1798 tại Kyoto ,
do nhà Zeniya Chõbẽ in. Sau bị cấm, vì thời điểm đó, Nhật vẫn còn bế quan tỏa
cảng, cấm dân Nhật ra ngoại quốc, mà cuốn sách tả chuyện viễn du.
Chúng tôi dịch hai trích đoạn liên quan đến thành Gia Định
và Nguyễn Vương. Theo lời tác giả, ta có thể đoán sự việc xẩy ra vào khoảng sau
tháng 9-10/1794, lúc hoàng tử Cảnh không còn trấn Diên Khánh mà đã về Gia Định
và Nguyễn Vương cũng rút quân về Gia Định để Võ Tánh trấn thủ Diên Khánh. Đến
tháng 11-12/1794, Trần Quang Diệu lại tấn công Diên Khánh, và tháng 3-5/1975
Nguyễn Vương hành quân cứu Diên Khánh. Vậy thời điểm kể trong tiểu thuyết này
là từ khoảng tháng 10/1794 đến tháng 3/ 1795.
Phong cảnh xung quanh Sài Gòn
“Có núi cao đến tận chân mây, nhiều cây và một con sông nước
trong. Biển bao bọc ba phiá. Những tầu buôn Hoà Lan, Quảng Đông, Macao , và những nơi
khác, đỗ đầy trong cảng sông. Đó là nơi buôn bán sầm uất. Nhờ những làng chài
lưới ven biển, thợ săn trên núi nên chợ búa đầy cá và muông thú, đầy dẫy cá
đồng; trong số cá biển, loại akaei nhiều nhất. Quanh năm đủ thứ rau rợ, lại còn
hoa quả lớn nhỏ, thêm vào thức ăn. Có thứ tre, khoảng cách giữa hai đốt dài lạ
lùng. Có cả vàng, bạc. Đồng thì đến từ Quảng Đông. Một năm ba mùa gặt luá, đậu
và đậu ván cũng thế. Người nghèo không biết đói là gì. Con người tử tế và nhân
từ. Vua trị vì với lòng tốt và dân chúng không khổ. Nhưng nước này ở cuối Nam
Hải, nơi có nhiều đảo quốc, lúc nào cũng phải đề phòng xâm lược. Không ngừng
vận dụng khí giới. Tháng thứ tư năm Cảnh Hưng thứ 54 [thực ra là năm Cảnh Hưng
thứ 34, 1773, Tây Sơn nổi lên], xứ Tây Sơn nổi lên chống kinh đô [Gia Định],
vua đã gửi quân chinh phạt, nhưng chưa biết thắng bại thế nào. Người ta náo
động sửa soạn chiến thuyền, phần đông đã khởi hành rồi…” (BEFEO, 1933, t.
57-58).
Kinh thành Gia Định và vua Gia Long, khoảng 1794- 1795
Đi khỏi nơi này, chúng tôi thấy cung điện chính hiện ra ở
đằng xa. Nền lát đá đẽo và trần rất cao. Có hai hàng ghế, nằm dọc theo chiều
dài gần một chõ [109 m10]. Trần và tường sơn đỏ, có chỗ nạm vàng hoặc bạc. Kỳ
quan nầy đập vào mắt chúng tôi. Các ghế ngồi đều tay bành và tạc tượng với
những hình khắc mầu, cũng khảm vàng, bạc. Người ta bảo đây là ghế của các quan
trấn thủ ở các miền. Ở miền Nam ,
từ quan lớn đến dân đen, tất cả mọi người đều ngồi ghế nói chuyện, hoặc ăn cơm.
Theo đúng nghi lễ, người ta đứng, hoặc đi đi lại lại từ người này đến người
khác, chào thì nghiêng mình ba lần, không cúi rạp thõng tay [như người Nhật].
Hành lang này dài độ 50 ken [91m]. Đất lại cao lên nữa. Ba ken [5m46] trước cửa
cung, có 14 ông quan.
Một lúc sau, thấy vua hiện ra trên ghế bành đỏ toàn bộ khảm
vàng bạc và giát ngọc ở giữa chính điện. Hai hoàng tử ngồi hai bên [một người
là Đông cung Cảnh, người kia chắc là Hy]. Vua trạc 40 tuổi (…), mặc áo gấm đen
thêu rua với quần gấm đen và mang đai lưng. Một người hầu cận cầm kiếm của vua
đứng sau lưng. Hoàng Thượng đội khăn lụa quấn năm vòng, đầu chỉ để hở búi tóc
cài lược vàng. Hai hoàng tử cũng mặc áo đen và cài lược vàng. Các quan ngồi gần
vua, đều mặc áo lụa xanh, vàng, đỏ hay trắng, mang lược đồi mồi, sừng trâu hay
tê giác. Y phục long trọng, không ai mặc đồ đen, trừ vua và hoàng tử. Thái tử
độ trạc hai mươi tuổi, rất đẹp và sang trọng không ai sánh nổi. Trong tất cả
các nước mà tôi ghé qua trên đường trở về [Nhật], chúng tôi chưa thấy ai đẹp
như ông. Sau cùng, người thông ngôn -xứ này người ta học thuyết Khổng Tử, nhưng
lại không hiểu tiếng Tàu; thông ngôn là người Nam Kinh, đã làm việc lâu năm
tại… (bỏ trống), rồi từ đó sang An Nam- đến tâu vua, cúi chào ba lần, và nói
với vua về chiếc tầu Hinoshita của chúng tôi bị đắm. Nhà vua bảo sẽ giúp. Chúng
tôi khẩn cầu ngài cho về xứ. Hoàng thượng trả lời qua người thông ngôn, bảo
được, nhưng phải đợi vài ngày, và ngay hôm nay, ngài sẽ cho thầy thuốc đến thăm
những người bị bệnh. Chúng tôi cảm ơn ngài và được các quan võ tháp tùng trở ra,
chúng tôi lên kiệu trở về chỗ ở vào giờ ngọ [12 giờ trưa] (BEFEO, 1933, t.
60-62).
Những điều Shihõken Seishi viết về thành Gia Định năm
1794-1795 rất đáng quý, bởi có thể ông là người ngoại quốc đầu tiên đã mô tả
kinh thành này, sau khi xây xong vài năm. Những điều ông viết rất hữu ích cho
sự khảo cứu thành Gia Định, mà trong hầu hết các văn bản của Pháp đều cho rằng
Puymanel và Lebrun là “tác giả”, rồi một số người Việt phụ hoạ. Chúng tôi sẽ
trở về vấn đề này.
Chân dung sau cùng về Gia Long đề cập đến ở đây là của
Barrow.
Chân dung vua Gia Long, theo Barrow
“Từ năm 1790, năm Gia Long về lại Nam kỳ, tới 1800, chỉ có
hai năm không đánh nhau là 1797 và 1798, cũng chính là hai năm quan trọng nhất
dưới triều đại của ông, cho tới nay đầy bão tố. Dưới sự trợ lực của giám mục
Adran, mà ông tham vấn như một người thông bác, ông đã làm hết sức để đất nước
tiến triển: lập xưởng làm thuốc súng ở Fen-tan [Hội An?] (thuộc đất Chàm trên
bản đồ), mở mang đường xá, trồng cây, trồng mía, trồng trầu cau đã bị chiến
tranh tàn phá, khuyến khích việc nuôi tằm, dệt lụa, lập xưởng điều chế nhựa
thông, hắc ín; chế tạo hàng nghìn súng hoả mai, khai mỏ sắt và xây lò nung. Lập
quân đội chính quy và lập trường võ bị, với các huấn luyện viên người Âu luyện
tập cho các sĩ quan cách bắn và phóng pháo. Adran còn dịch sang chữ Hán một bản
nghiên cứu chiến lược để dùng trong quân đội.
Trong hai năm này, nhà vua đã cho đóng ít nhất 300 chiến
thuyền có đại bác hoặc ghe chèo, 5 thuyền 3 cột buồm, một chiến hạm theo lối
Tây phương. Ông sáng chế ra một chiến thuật mới cho thủy binh và dạy sĩ quan
hải quân biết dùng dấu hiệu. Một trong những người Anh mà tôi đã nói ở trên,
cho biết đã nhìn thấy ở Sài Gòn, năm 1800, một hạm đội 1200 thuyền buồm do
chính ông điều khiển, nhổ neo và tiến trên sông với một trật tự thật đẹp, chia
làm ba đoàn, thẳng hàng tiếp chiến, mở, đóng hàng ngũ và thi hành tất cả những
thao tác theo đúng hiệu lệnh.
Trong khoảng thời bình này ông còn sửa đổi cả luật pháp nữa,
và chắc là có bàn tay giám mục giúp sức. Ông bỏ những hình phạt tàn ác vẫn được
áp dụng cho tới đó… ông lập trường công, bắt trẻ con từ 4 tuổi trở lên phải đi
học. Ông xác định hệ thống lãi xuất hợp pháp cho ngành thương mại, xây cầu trên
sông, làm cầu phao, đặt phao nổi trên biển báo hiệu những nơi nguy hiểm có đá
ngầm, thanh tra các hải cảng và những vịnh chính, gửi nhiều phái viên về các
rừng núi miền Tây nơi có người Mèo và người Lào sinh sống trong tình trạng bán
khai để dẫn họ về với đời sống văn minh hơn, những người miền núi này mà người
Tầu vẫn gọi một cách hạ thấp là “người có đuôi”, mặc dầu, có thể, tiền nhân của
họ ngày trước đã xây dựng nên nền văn minh của đế quốc hiện thời.
Vị vua này, hết sức chuyên tâm về mỹ thuật và công nghệ, ông
sánh ngang hàng với Đại đế Pierre của nước Nga, nhưng không tàn bạo kích động
như thế, bởi cái gương đặc thù của ông, bởi nghị lực của dân tộc ông, và giống
như Alfred bất tử của chúng ta [Alfred đại đế của Anh (871-899)] ông không ngần
ngại làm bất cứ việc gì để hồi sinh đất nước.
Để có một ý niệm về hoạt động và thiên tài của ông, chỉ cần
xem những tình huống mà ông đã trải qua: mới đầu chỉ có một chiến hạm, mà trong
vòng không đến 10 năm, đã có một hạm đội 1200 chiến thuyền, trong đó có 3 tầu
kiến trúc Tây phương, khoảng 20 thuyền buồm lớn theo kiểu Trung quốc hoàn toàn
trang bị võ khí, chỗ còn lại là tầu chuyên chở, trang bị đại bác.
Gia Long được miêu tả như một người lính hoàn hảo, trong
nghiã mạnh mẽ nhất. Người ta kể ông thích là tướng quân hơn đế vương. Người ta
tả ông can đảm, không thô bạo, lắm mưu. Những nhận thức của ông thường đúng;
khó khăn không chán nản, cản trở không lùi bước; thận trọng trong mỗi quyết
định, mau lẹ và rắn rỏi khi thực hành điều đã định, luôn luôn ở vị trí chủ chốt
trong trận, đi tiên phong trước ba quân. Tính tình vui vẻ dễ chịu, nhã nhặn,
lắng nghe quan quân dưới quyền, tránh ban ân huệ riêng tư; có trí nhớ đặc biệt,
ông nhớ hầu hết tên của lính trong quân: ông thích thú nói chuyện với họ, nhắc
họ hành động và chiến công của họ, hỏi thăm vợ con họ, hỏi đã cho con nhỏ đi
học đều chưa, hỏi chúng muốn làm gì khi lớn, ông biết hết những chi tiết nhỏ
nhất về gia đình họ.
Đối với người ngoại quốc, ông rất tử tế và ân cần. Ông quý
mến những sĩ quan Pháp giúp ông: đối xử với họ lịch sự, thân tình và rất tốt.
Không bao giờ ông đi săn hay dự cuộc vui nào mà không mời một người trong bọn
họ tham dự. Ông tuyên bố công khai lòng kính trọng của ông đối với các tôn chỉ
của đạo thiên chúa, ông dung đạo chúa như các đạo khác trong nước: ông cực kỳ
tôn kính đạo nghiã gia đình như Khổng Tử dạy trong kinh sách; đứng trước mẹ, bà
hãy còn sống, ông tôn kính như đứa bé đứng trước mặt thầy. Ông thông thuộc
những tác giả lớn của Trung Hoa. Nhờ giám mục Adran dịch một số mục từ trong
Bách Khoa toàn thư sang chữ Hán, ông biết được khoa học và nghệ thuật Tây
phương, đặc biệt ông chú trọng đến thuật hàng hải và thuật đóng tầu. Người ta
đồn, điều này không được phép nói ra, rằng để kết nối lý thuyết kiến trúc tầu
với thực hành, ông đã mua một chiến hạm Bồ, rồi tháo ra từng mảnh, từng tấm ván
một, bắt chước đúng kích thước đó mà làm lại, cho đến khi ông thay thế tất cả
các bộ phận bằng những mảnh mới làm, để hoàn thành một chiếc tầu mới.
Nghị lực trí thức của ông ngang bằng với khí phách và hoạt
động thể xác. Chính ông chủ động sự bùng lên mọi mặt của đất nước, chính ông
quản đốc các hải cảng và các công binh xưởng, chính ông là giám đốc xây dựng
những xưởng đóng tầu, chính ông chỉ huy các kỹ sư trong tất cả mọi công việc,
không có gì thực hiện không có gì chấp hành mà không hỏi ý kiến và nhận lệnh
của ông. Không ai chế tạo một bộ phận nào mà không hỏi ông; không ai lắp một khẩu
đại bác nào mà không có lệnh của ông. Không những ông trông coi từng chi tiết
nhỏ, mà còn phải làm trước mặt ông.
Để điều khiển tất cả công việc của mình một cách vững vàng,
ông đặt ra một thời biểu sống cố định và kỷ luật. Sáng dậy 6 giờ, tắm nước lạnh;
7 giờ, các quan vào chầu, mở tất cả công văn đến từ hôm qua, ông truyền lệnh
cho các thư ký ghi chép, sau đó ông ra xưởng tầu thủy, duyệt lại tất cả những
gì đã làm xong lúc ông vắng mặt, rồi ông tự chèo thuyền đi khắp bến cảng, kiểm
soát các chiến hạm, đặc biệt chú ý đến súng đại bác; ông đi thăm lò đúc súng,
đúc đủ loại đại bác ngay tại công binh xưởng.
Đến 12 hay một giờ trưa, ông ăn cơm ở xưởng đóng tầu. Cơm
với cá muối. Hai giờ ông về cung ngủ tới 5 giờ; sau đó ông tiếp các quan võ
thuỷ bộ, các quan toà, hay quan cai trị, ông đồng ý, hoặc bãi bỏ hoặc sửa chữa
những kiến nghị của mọi người. Thường thì công việc triều chính kéo dài đến nửa
đêm, ông mới trở về phòng làm việc, ghi nốt và chú thích thêm cho những việc
ngày hôm nay; rồi ông ăn một bữa cơm nhẹ, gặp gia đình độ một giờ, đến 2, 3 giờ
sáng ông mới đi ngủ. Ông chỉ ngủ 6 giờ một ngày.
Ông không uống rượu, ăn ít thịt, cá, cơm, rau, hoa quả, chút
bánh trái và uống trà, đó là tất cả đồ ăn của ông. Như một vị dòng dõi vua Minh
bên Tầu, mà ông công nhận, ông ăn cơm một mình, không cho phép vợ con ngồi cùng
mâm. Vẫn nguyên tắc kiêu kỳ này, ông không tiếp những người Anh đến chào năm
1799, lấy cớ lúc này tình hình lộn xộn không cho phép sửa soạn tiếp đón theo
đúng nghi lễ. Ta sẽ lầm nếu phê bình sự từ chối này như [thái độ của] một ông
vua nước Tầu; nhưng với ông, chẳng vì hiềm tị mà ông không làm thoả mãn lòng
hiếu kỳ của người ngoại quốc. Trái lại, họ có thể tự do đến thăm xưởng đóng
tầu, thăm những tháp canh, những thành đồn. Ông tiếp họ dễ dàng trong tư thế
tướng quân. Nhưng với tư thế đế vương, ông không tiếp.
Người ta bảo ông dáng tầm thước, nét mặt đều đặn dễ coi. Da
hung hung nâu đỏ vì giãi dầu nắng gió và hiện nay (1806) ông độ khoảng 50 tuổi.
Ông chỉ biết đến người Anh qua tên gọi; nhưng nghe nói rằng,
trong mọi trường hợp, ông luôn luôn tỏ dấu rất kính trọng dân tộc này; và nhất
là nếu đó lại là những điều do người Pháp mách lại [ý nói do Barisy], thì càng
đáng tin. Điều chắc chắn rằng ông luôn luôn tỏ những ý định tốt đối với nước
Anh. Ông đã tuyên bố qua một đạo dụ, rằng tất cả những hạm đội của chúng ta
[Anh] đều được miễn thuế vào các hải cảng lớn, nhỏ.
Một lần, sự rộng lượng của vua đã rõ thực ngời sáng: Người
thuyền trưởng và viên đệ nhất sĩ quan một tầu buôn Anh, cả hai đều bị chết, khi
tầu đi từ Quảng Đông tới Sài Gòn. Để đề phòng cướp bóc, gian lận, có thể gây
thiệt hại cho chủ tầu, vì hai người chỉ huy đều chết cả; vua bèn gửi thuyền
trưởng Barisy với một đội quân cấm vệ, đi hộ vệ chiếc tầu Anh yên lành trở lại
Quảng Đông hay Macao, để trả cho chủ hay viên đại lý đang còn ở đó (…).
Người ta nói vợ ông là một bà hoàng đạo đức gương mẫu, có
một tâm hồn cương quyết đã nâng đỡ và an ủi ông trong những thất bại chua cay
nhất. Họ có 7 người con. Hai con trai đầu giao cho Adran dạy dỗ. Đông cung, ông
hoàng trẻ, mà giám mục đưa sang Paris ,
chết sau thầy ít lâu. Tính tình hiền lành, sốt sắng và bặt thiệp, thiên tư đạo
đức; những đức tính hợp với một đời sống yên lành của một tư nhân, hơn là với
địa vị cao cả đã dành cho từ lúc sinh ra. Người em, thừa hưởng sự kế vị, là một
quân nhân ưu tú. Ba năm đi lính, năm năm làm hạ sĩ (caporal) rồi lên trung sĩ
(thầy đội, sergent), và đã phụng sự đắc lực trong những năm chiến tranh. Năm
1787, được lên cấp cai đội (lieutenant-colonel); và năm sau, được thăng trấn
thủ một vùng ven biển. Năm 1800, được thăng tướng (géneral) cai quản một dinh
quân 35.000 người. Chính trong năm này, ông đạt chiến thắng quan trọng nhất đối
với quân Bắc Hà, họ để lại trận 9.000 người chết và bắt được tất cả voi và đại
bác.
Đây là sức mạnh quân sự của vua Nam Hà, năm 1800, theo đại
uý Barisy:
Bộ binh
24 đội kỵ binh (cưỡi trâu)… 6.000 người
16 đội voi (200 con)… 8.000
30 đội pháo binh… 15.000
25 chi đoàn 1.200 người trang bị vũ khí Âu châu… 30.000
Bộ binh trang bị kiếm và súng cổ trong nước… 42.000
Vệ binh tập luyện theo lối Âu châu…….12.000
Tổng cộng bộ binh….. 113.000 người
Thuỷ binh
Lính thợ trong xưởng đóng tầu….. 8.000
Lính thuỷ, mộ hay nối dõi (cha, anh), trên những chiến hạm
đậu ở cảng… 8.000
Lính biệt phái sang những tầu chiến kiểu Tây phương…1.200
Lính biệt phái thuyền buồm (jonque)… 1.600
Lính biệt phái 100 thuyền chiến chèo (galère)… 8.000
Tổng cộng thủy binh….26.800
Tổng cộng toàn bộ: 139.800 quân
(Barrow II, t. 224-238).
Sau đây là một số nhận xét về chân dung vua Gia Long do
Barrow khắc họa:
1- Về bản kê khai sức mạnh quân sự của Gia Long do Barisy
cung cấp, chúng tôi sẽ trở lại trong chương sau, viết về tác phẩm của Montyon,
vì Montyon ghi chép cặn kẽ về quân đội Gia Long hơn Barrow nhiều. Về đội kỵ
binh cưỡi trâu, bản của Montyon ghi thêm: “Trâu thay ngựa trong chiến trận xưa,
nay đã bỏ”. Taboulet ghi lời giải thích của tướng Lemonnier: Đội kỵ binh cưỡi
trâu có lẽ là một thứ kỵ binh có nhiệm vụ an ninh gần. Không thấy nói đến các
hành động sốc của đội quân này. Cũng không có chiến tích gì, nên đã bị bãi bỏ
ngay (Taboulet, I, t. 257, note 1).
2- Về bà Chính hậu, tức Thừa thiên Cao hoàng hậu, là con gái
thái bảo Tống Phước Khuông, mẹ họ Lê, lấy Nguyễn Ánh năm 1778, hơn Ánh 2 tuổi.
Liệt truyện ghi: “Sinh được 2 con trai, con cả là Chiêu, chết sớm, con thứ là
Cảnh”, “mỗi khi vua đi đánh giặc, Hậu thường đi theo” “tự dệt vải mỏng, dầy cho
quân lính”, “phần nhiều khuyên chăm chính sự” “giúp vua trong lúc gian nan” (…)
Trước kia trong lúc xiêu giạt, phụng dưỡng Hoàng Thái hậu, nếm trải mọi mùi
gian nan hiểm trở, thường thân hành dệt cửi, chính tay may lấy áo trận, để cấp
cho quân sĩ. Một hôm thuyền đi gặp giặc, vua đốc quân cố sức đánh, hậu cũng cầm
dùi đánh trống, quân lính tranh nhau phấn khởi thành ra đánh được.” Bà mất ngày
22/2/1814 (3/2/Ất Mùi) (LT, 2, t. 25-27-32) .
Những điều Barrow ghi về bà đúng cả, chỉ có 7 người con là
nhầm với con của các bà phi khác, có lẽ do bà trông nom. Minh Mạng cũng là bà
nuôi. Hoàng tử Hy, con thứ nhì của Nguyễn Vương, không biết tên mẹ. Hoàng tử
Tuấn, mất sớm, mẹ là Chiêu Dương. Đến Minh Mạng, thứ tư, là con Thuận Thiên Cao
hoàng hậu, con gái Thọ Quốc Công Trần Hưng Đạt…
3- Về hai hoàng tử Cảnh và Hy, Barrow ghi tính tình khá
đúng, trừ ông không biết việc hoàng tử Hy mất sau anh 2 tháng.
4- Việc Barrow tưởng vua Gia Long miễn thuế cho các tầu Anh,
chắc không đúng, Thực Lục ghi 2 lần người Anh đến, tháng 4/1798: “Người Hồng
Mao đến hiến phương vật” (TL, I, t. 366), không nói thêm gì. Và tháng 5/1801:
“Nước Hồng Mao sai người đem thư đến dâng phương vật mà xin miễn thuế cảng cho
thuyền buôn. Vua hạ lênh cho lưu trấn Gia Định viết thư trả lời, đánh thuế theo
như thể lệ thuyền buôn Quảng Đông“ (TL, I, t. 438)].
5- Việc Adran dịch sang chữ Hán một bản nghiên cứu chiến
lược để dùng trong quân đội, không biết Barrow lấy ở đâu, vì không thấy nơi nào
nói đến. Sau đó, Maybon dùng thông tin này của ông, và những người khác chép
theo.
Còn câu “giám mục Adran dịch một số mục từ trong Bách Khoa
toàn thư sang chữ Hán” có thể đã rút ra trong chúc thư của Bá Đa Lộc do Le
Labousse viết: “Đức Cha tặng vua một hộp đựng thuốc bằng vàng nạm kim cương,
điểm một viên kim cương trạm công phu, kính thiên văn và kính viễn vọng của
người, bốn quyển Bách Khoa Toàn Thư…” (Launay, III, t. 384), đây là nơi duy
nhất nói đến Bách Khoa Toàn Thư, chính Le Labousse cũng không nói gì đến việc
dịch sách, mà Sử Ký Đại Nam Việt cũng không. Nhưng câu này của Barrow cũng sẽ
được Faure, Maybon và những người tôn vinh Bá Đa Lộc chép lại và phóng đại lên
sau này.
Xin nói thêm: hộp thuốc lá bằng vàng nạm kim cương, theo
Faure, là vua Louis XVI thưởng cho vị giám mục, sau khi ký hiệp ước 28/11/1787
với Montmorin. Nguyễn Vương không nhận các món quà của Bá Đa Lộc. Chúng tôi sẽ
trở lại việc này.
6- Việc một người Anh nhìn thấy năm 1800, Nguyễn Vương có
hạm đội 1200 chiến thuyền, trong đó có 3 tầu kiến trúc Tây phương, chắc không
sai, chúng ta chỉ cần lướt qua con số thuyền và tầu chiến các kiểu, ghi trong
Thực Lục mà Nguyễn Ánh cho đóng từ tháng 4/1778 đến năm 1800, thì đủ biết, dù
những thuyền, tầu này bị đắm, bị đốt, bị hư hại, số còn lại vẫn rất cao.
Qua những nhân chứng trên đây, chúng ta đã có một hình ảnh
khá đậm nét về vua Gia Long, qua sự đúc kết những lời của các tác giả hợp lại:
15 tuổi, Nguyễn Ánh đã làm tướng, xông vào đánh nhau cùng
với lính. Khôn ngoan và can đảm. Thông minh, nhìn qua mọi sự là biết ngay, chăm
việc: “khi thì đốc suất các thợ, khi thì đi biên các kho, hoặc coi tập binh hay
đắp lũy”. Tự học, biết chữ nho, không biết tiếng Pháp. Xem các họa đồ về việc
đắp lũy, xây thành, qua những sách mua ở bên Tây, rồi bắt chước làm theo. Nhược
điểm: được trận thì mừng thái quá, mà thua thì dễ nản. (SKĐNV)
Linh lợi, sâu sắc, thẳng thắn, nhìn thoáng qua là nắm bắt
được trọng tâm của những sự thể phức tạp nhất. Có trí nhớ hơn người, ghi nhớ
tất cả, dễ dàng thiên bẩm bắt chước được tất cả. Những công binh xưởng, và
những bến tầu chiến của Nguyễn Vương làm cho người ngoại quốc thán phục. Thuyền
tầu đếm không xuể. Những chiến hạm lớn lao, đủ loại hình thái, kiên cố. Tất cả
đều là sản phẩm của ông hoàng này (…) Ông cực kỳ siêng năng. Ban đêm ngủ ít,
đọc nhiều. Có tính hiếu kỳ và thích học hỏi. Trong cung có nhiều sách về kiến
trúc, thành đài. Ông thường giở từng trang để xem những đồ thị và cố gắng bắt
chước, khỏi cần đọc những giải thích bằng chữ Pháp vì ông không đọc được. (Le
Labousse)
Gia Định có những tầu buôn Hoà Lan, Quảng Đông, Macao , và những nơi
khác, đỗ đầy trong cảng sông. Đó là nơi buôn bán sầm uất. (Shihõken Seishi)
Chính Nguyễn Vương quản đốc các hải cảng và các công binh
xưởng, chính ông là giám đốc xây dựng những xưởng đóng tầu, chính ông chỉ huy
các kỹ sư trong tất cả mọi công việc, không có gì thực hiện không có gì chấp
hành mà không hỏi ý kiến và nhận lệnh của ông. Không ai chế tạo một bộ phận nào
mà không hỏi ông; không ai lắp một khẩu đại bác nào mà không có lệnh của ông.
(Barrow)
Kết luận
Barrow là người không gặp Gia Long, nhưng bức chân dung Gia
Long do ông khắc hoạ rất đầy đủ và có nhiều điểm giống với những điều do Le
Labousse và Sử Ký Đại Nam Việt viết. Barrow cho biết ông dựa vào bản thảo Hồi
ký Barisy. Mà Barisy, qua vài lá thư để lại, là người tính tình hơi ba hoa
nhưng thực lòng, chính ông đã làm bản thống kê lực lượng quân đội Nguyễn Ánh
trên đây và những điều về cuộc sống hàng ngày của nhà vua chỉ có thể do Barisy
cung cấp, bởi vì Barisy là người có dịp gần gụi vua và đông cung.
Tuy nhiên có một điểm đáng chú ý sau đây:
Barisy, là người cùng thời và là bạn đồng hành của Puymanel,
Dayot, Vannier, Chaigneau… nhưng ông không hề nói đến việc Puymanel “xây” các
thành Gia Định và Diên Khánh, hay việc Dayot làm “tổng tư lệnh hải quân” mặc dù
Barisy có mặt trong những thời điểm đó.
Các học giả Pháp không nhắc đến Hồi ký Barisy. Cadière cho
công bố hai bức thư dài của Barisy viết về trận Thị Nại và trận Phú Xuân, vì
trong đó nói đến những người Pháp tham dự.
Taboulet cho biết Hồi ký Barisy đã thất lạc (Taboulet, I, t.
256).
Chúng ta có thể đặt câu hỏi: Hồi ký Barisy thật sự thất lạc
hay chính giới nghiên cứu Pháp thấy nó không phù hợp với những điều mà họ muốn,
nên đã không dùng hoặc coi như thất lạc.
Khi trích dẫn Barrow để đăng trong sách của ông, Taboulet đã
bỏ đoạn Barrow viết về kỹ nghệ đóng tầu thuyền ở Việt Nam và khi ông trích đoạn
viết về chân dung Gia Long, ông khôn ngoan cắt làm hai bài, để loại trừ những
dòng Barrow xác định chính Nguyễn Vương quản đốc các hải cảng và các công binh
xưởng, chính ông là giám đốc xây dựng những xưởng đóng tầu, chính ông chỉ huy
trong tất cả mọi công việc…
Phần Maybon, để đả kích Barrow, trong cuốn Histoire moderne
du pays d’Annam và trong bài Introduction in trong La Relation de La Bissachère
(chúng tôi sẽ giới thiệu sau), Maybon đưa ra một vài chi tiết mà ông cho là sai
của Barrow về sự xung đột giữa Bá Đa Lộc và de Conway tại Pondichéry; và việc
văn bản hiệp ước cầu viện 28/11/1787, do Barrow in trong sách, khác với văn bản
“chính thức”, để ông kết luận rằng cuốn sách của Barrow đưa toàn những thông
tin sai lầm vô căn cứ mà lại được nhiều người chép lại.
Ngoài việc Barrow vẽ một chân dung Gia Long và sự xây dựng
Nam Hà, không phù hợp với những điều mà họ mong muốn, có lẽ còn một lý do nữa
khiến Maybon loại bỏ Barrow, bởi trong sự tranh giành thuộc địa mà nước Anh là
kẻ thù không đội trời chung của nước Pháp, Barrow đã vạch rõ những ý đồ của Bá
Đa Lộc và của nước Pháp thực dân.
(Còn tiếp)
